Tiếng nói của trẻ concủa Amara Okonkwo

14 · Định lượng

Chương 14 · khoảng 12,3 N chữ

Qua Tết xong, trời vẫn lạnh.

Tháng Giêng chưa đi học lại. Ngày nào tôi cũng đi trụ sở.

Mẹ nói: Ngày nào con cũng chạy đi đấy.

Tôi nói: Báo số.

Bà hỏi: Mùng năm đã báo à.

Tôi nói: Báo.

Bà bèn thôi nói. Bà móc tro trong lò ra, đổ vào cái rổ.

Mẹ rút quyển sổ xanh của tôi từ trong cặp ra, lật lật một lượt.

Bà nói: Quyển này mỏng.

Tôi nói: Phát mà.

Bà nói: Phía sau còn số.

Tôi nói: Không có chữ.

Bà hỏi: Không chữ để dành làm gì.

Tôi nói: Sau này in.

Bà hỏi: Ai nói.

Tôi nói: Anh ghi chép.

Bà bèn nhét quyển trả lại. Lúc nhét bà đập quyển vào đầu gối một cái, đập cho ngay ngắn rồi mới nhét.

Bà nói: Thế con cứ giữ.

Đầu phía đông tầng một trụ sở nhà máy. Trong nhà lạnh. Anh ghi chép đút hai tay vào tay áo.

Đến lúc viết anh mới lấy bút ra. Lấy ra là bút đỏ.

Năm nay anh ho. Ho một tiếng, ngừng một nhịp, ngừng xong lại ho.

Ho xong anh lấy tay bịt miệng. Tay anh dính bụi phấn.

Ho xong anh lau vào quần một cái. Lau xong chỗ đó trắng đi một mảng nhỏ.

Anh nói: Sang xuân là đỡ.

Tôi hỏi: Cái gì đỡ.

Anh nói: Ho.

Tôi nói: Ồ.

Cái cốc men trên bàn là của anh. Trong cốc ngâm có thứ gì, ngâm nở ra, là hai cục to.

Anh nói: Đừng uống. Đắng.

Tôi nói: Con không uống.

Mấy hôm đó số tôi báo là một.

Anh ghi chép hỏi: Hôm qua mấy cái.

Tôi nói: Hai cái.

Anh hỏi: Hôm nay thì sao.

Tôi nói: Một cái.

Anh ghi. Ghi xong anh không ngẩng đầu.

Anh nói: Cứ đi xuống thế.

Tôi hỏi: Cái gì đi xuống.

Anh nói: Số.

Tôi hỏi: Số cũng biết đi à.

Anh nói: Biết.

Tôi bèn thôi hỏi.

Trong nhà yên một lúc. Lúc yên nghe được truyền thanh ngoài kia, đang đọc thông báo.

Thợ Qiao ho trước một tiếng, rồi mới đọc.

Câu đầu anh đọc là: Các đơn vị lưu ý.

Wang Chaosheng cũng đến. Nó báo nhanh.

Nó báo: Sáng. Đè. Đông. Xuống.

Anh ghi chép ghi. Ghi xong anh hỏi: Còn gì nữa không.

Wang Chaosheng nói: Có. Vững.

Có lần anh ghi chép bắt tôi nối với nó.

Nó báo: Sáng. Đi. Đông.

Tôi đợi.

Nó báo xong, ngoảnh lại nhìn tôi. Nó định nhắc.

Tôi nói: Đừng nói.

Nó nói: Tôi có nói đâu.

Tôi nói: Mày định nói.

Nó bèn thôi nói.

Tôi nối ra được: Nó nói, bên đông có sáng đang đi.

Anh ghi chép ghi. Ghi xong anh không ngẩng đầu.

Ghi xong nó đi luôn. Nó nói nó có việc.

Tôi hỏi: Việc gì.

Nó nói: Trước cửa.

Tôi hỏi: Cái người đi xe đạp thì sao.

Nó nói: Chẳng đến nữa.

Tôi hỏi: Đi đâu rồi.

Nó nói: Không biết. Qua Tết chưa từng đến.

Nó lộn túi ra cho tôi xem. Túi rỗng, chỉ còn một sợi chun.

Nó nói: Đổi hết rồi.

Tôi hỏi: Đổi lấy cái gì.

Nó nói: Đổi mà thành mất.

Nó tròng sợi chun vào tay, bật một cái. Bật xong nó đeo vào cổ tay, đi mất.

Tôi đứng ở cửa nhìn một lúc. Cái ngọn hỏng trước cửa vẫn chưa được sửa.

Thằng bé trong sân bên kia sông cũng đến hai lượt.

Nó không ôm cái gối nữa. Nó tự đi.

Nó báo: Không có.

Anh ghi chép ghi. Ghi xong anh xoay quyển sang, cho tôi xem.

Anh nói: Hai chữ này.

Tôi không nhận ra chữ đầu.

Anh nói: Không báo.

Tôi nói: Con biết rồi.

Báo xong nó đi luôn. Nó không nhìn tôi.

Có lần nó đứng ở cửa, ngoảnh lại nói một câu.

Nó nói: Lần đó tao bịa đấy.

Tôi hỏi: Lần nào.

Nó nói: Trong núi.

Tôi nói: Ồ.

Nó nói: Tao không nghe thấy.

Tôi nói: Lần đó mày nói là nghe thấy một chút mà.

Nó nói: Đó là bịa.

Nó bèn đi. Khi đi dây giày nó buông lỏng, nó vừa đi vừa dẫm.

Hôm đó báo số xong, tôi không về.

Tôi ngồi trên ghế, tay đặt trên đầu gối.

Tôi đợi nó nói tiếp xuống.

Trong nhà yên tĩnh. Ngoài kia có người quét sân, quét một cái, ngừng một nhịp.

Tôi đợi rất lâu. Lâu đến mức anh ghi chép đậy nắp bút lại.

Anh gập quyển lại. Anh nói: Hôm nay đến đây.

Tôi không nhúc nhích.

Anh hỏi: Còn?

Tôi nói: Còn.

Anh bèn mở quyển ra lại. Anh xoay cây bút trên đầu ngón tay một cái.

Tôi nói: Nó nói, anh cầm lấy.

Anh hỏi: Cầm lấy à.

Tôi nói: Nó nói, anh cầm lấy. Nó nói, vững rồi mới buông tay.

Anh viết. Anh viết chậm, từng chữ một rơi xuống.

Viết xong anh hỏi: Còn gì nữa không.

Tôi nói: Nó nói, nó chờ.

Bút anh khựng lại.

Anh nói: Nó chờ à.

Tôi nói: Ừ.

Anh viết xong, đọc lại dòng đó một lượt.

Anh đọc: Nó nói, anh cầm lấy. Vững rồi mới buông tay. Nó chờ.

Đọc xong anh không nói gì. Anh đặt bút nằm trên giấy.

Anh nói: Lại là chữ "anh".

Tôi nói: Ừ.

Anh hỏi: Trước nó từng nói "anh" chưa.

Tôi nói: Từng.

Anh hỏi: Khi nào.

Tôi nói: Mùa đông.

Anh ghi vào quyển. Ghi xong anh dừng một chút.

Tôi hỏi: Viết cái gì đấy.

Anh nói: Không chuyện của con.

Tôi nói: Ồ.

Tôi hỏi: Nó chờ, chờ nổi không.

Anh nói: Cái gì cơ.

Tôi hỏi: Nó bảo nó chờ. Nó chờ nổi không.

Anh đặt bút xuống.

Anh hỏi: Con có sợ không.

Tôi nói: Sợ cái gì.

Anh nói: Nó đang chờ đấy.

Tôi nói: Nó chờ nổi.

Anh không nói gì. Anh nhặt bút lên lại.

Tôi hỏi: Cái này là số mấy.

Anh hỏi: Cái nào.

Tôi nói: Buông tay.

Anh lật quyển. Anh lật từ trước ra sau, lật chậm, từng trang một tách.

Anh nói: Quyển chỉ in đến năm mươi.

Tôi hỏi: Năm mươi mốt thì sao.

Anh nói: Sau này in.

Tôi hỏi: Thế tôi ghi vào số ba mươi bảy được không.

Anh nói: Số ba mươi bảy đang trống.

Tôi nói: Con biết.

Anh bèn lật đến dòng số ba mươi bảy.

Anh cầm bút. Anh viết một chữ.

Viết được nửa chừng anh ngừng.

Tôi hỏi: Viết xong rồi à.

Anh nói: Chưa.

Tôi hỏi: Sao thôi viết.

Anh nói: Viết không đủ.

Tôi nhìn cái ô đó. Nửa đầu là bộ Ngôn.

Tôi hỏi: Nửa sau thì sao.

Anh nói: Không biết.

Tôi hỏi: Thế làm sao.

Anh nói: Để dành.

Anh đặt bút xuống.

Anh gập quyển lại. Anh nói: Lần này phải chuyển lên trên.

Tôi hỏi: Chuyển đi đâu.

Anh nói: Cái nhà sân sau.

Tôi hỏi: Nhà gì đấy.

Anh nói: Nhà chứa quyển.

Tôi hỏi: Vào được không.

Anh nói: Không.

Anh xếp xấp trên bàn cho ngay ngắn. Xếp xong lấy dây buộc, buộc chữ thập.

Tôi hỏi: Buộc nó làm gì.

Anh nói: Đỡ cầm.

Anh bê lên, kẹp bằng nách, đi ra ngoài.

Tôi bám theo ra đến cửa.

Sân sau tôi chui không vào. Cửa bằng gỗ, trên có một cái móc khóa.

Trên móc khóa luồn một khúc dây sắt. Đầu dây sắt xoắn hai vòng.

Tôi nhìn qua khe cửa vào. Trong sân tối, chẳng có gì cả.

Hôm đó buổi sáng có hai người khiêng thùng.

Thùng bằng bìa, hai người đỡ ở dưới, khiêng vào cái nhà sân sau.

Trên thùng dán một tờ giấy, trên giấy hai chữ. Tôi không nhận ra.

Tôi nói: Cái đó là gì.

Anh ghi chép nói: Quyển.

Tôi hỏi: Bao nhiêu quyển.

Anh nói: Chưa đếm.

Tôi hỏi: Trong nhà có bao nhiêu.

Anh nói: Hai cái tủ.

Tôi hỏi: Tủ đầy chưa.

Anh nói: Đầy rồi.

Tôi hỏi: Đầy rồi thì sao.

Anh nói: Nhét vào.

Tôi hỏi: Cháy thì sao.

Anh nói: Có nước.

Nói xong anh ngẩng lên nhìn tôi một cái.

Tôi bèn thôi hỏi.

Chiều Wei Dongquan đến.

Vẫn áo màu sẫm. Túi vải đeo trên cánh tay, miệng túi buộc dây.

Anh ta nói chuyện với anh ghi chép. Nói gì tôi không nghe rõ, chỉ nghe được một câu.

Câu đó là: Lần này có mấy mục.

Anh ghi chép nói: Chín mục.

Wei Dongquan hỏi: Báo mấy mục.

Anh ghi chép nói: Báo hết.

Wei Dongquan ngừng một chút. Lúc ngừng anh ta nhìn quyển trên bàn.

Anh ta nói: Báo hết à.

Anh ghi chép nói: Trên bảo thế.

Wei Dongquan nói: Ồ.

Lúc đi ra anh ta thấy tôi.

Anh ta nói: Hôm trước con nói thêm một câu.

Tôi nói: Ừ.

Anh ta hỏi: Nói cái gì.

Tôi nói: Nó nói, anh cầm lấy. Vững rồi mới buông tay. Nó chờ.

Nghe xong anh ta đứng im.

Anh ta nói: Con nói lại một lượt.

Tôi lại nói một lượt.

Anh ta nói: Câu này tôi nhớ đấy.

Anh ta móc từ túi ra một quyển, mở ra, ghi.

Lúc anh ta ghi tôi nhìn cái túi vải của anh ta. Túi nằm trên cánh tay, dưới đùn ra một góc, vuông vức.

Dây buộc chặt.

Ghi xong anh ta thu quyển lại.

Anh ta nói: Về sau đừng nói thêm.

Tôi hỏi: Vì sao.

Anh ta nói: Thêm một câu, là thêm một câu thu không về được.

Tôi không hiểu.

Anh ta nói: Nhớ là được.

Tôi nói: Nhớ rồi.

Anh ta bèn đi. Anh ta đi không ra tiếng.

Đêm hôm đó tôi nghe thấy hô hào.

Ban ngày chẳng có gì. Tối tôi ở nhà.

Mẹ đang khâu đế giày. Bà chà kim lên tóc một cái, rồi mới đâm xuống.

Bố đang nối dây đèn. Dây đứt, bố nối thêm một khúc, nối xong kéo thử hai cái.

Truyền thanh phát xong rồi. Phát xong nó vẫn còn.

Tôi nằm xuống. Tôi lấy áo bông đắp lên mặt trên của chăn, đè ở đầu chân.

Tôi ngủ mất.

Mẹ dậy trước. Bà bật cái đèn lên.

Bà nói: Mặc áo bông vào.

Tôi mặc. Cài nhầm một cái nút.

Bà nói: Thôi đừng đi.

Tôi nói: Con đi xem.

Bà không kéo nổi.

Tôi chạy ra đến cửa sân. Trong sân đã đứng người.

Phía nhà máy đỏ một mảng. Trời đỏ, từng lớp từng lớp.

Có mùi. Mùi giấy cháy.

Tôi chạy về phía cổng nhà máy.

Trước cửa đứng người, ai cũng ngẩng cổ nhìn.

Có người bưng chậu. Chậu bằng sứ men, mẻ mất men, lộ ra sắt đen.

Họ múc nước từ bể, một chuyến một chuyến chạy vào trong.

Có người hô: Tránh ra.

Người hô tôi không nhận ra.

Trước cửa xếp thành hai hàng. Một hàng chuyền chậu vào trong, một hàng chuyền chậu rỗng ra ngoài.

Chậu đến tay là lạnh. Tạt ra là bốc khói trắng.

Chân tường đứng một người. Tay anh ta cầm một quyển.

Anh ta lật từng trang, lật rất nhanh.

Lật xong anh ta kẹp quyển dưới nách, lại lấy một quyển nữa.

Anh ta không bưng chậu.

Tôi cũng chuyền hai lượt chậu rỗng. Lượt thứ ba có người đẩy tôi ra.

Người đẩy tôi nói: Ra cạnh đi.

Tôi bèn đứng ra cạnh.

Có người đá lộn bình thủy. Ruột vỡ, nước trong đó bốc hơi.

Không ai nhặt.

Dì Zhang đứng trong sân nói chuyện với người ta. Bà nói: Cháy là sân sau cháy.

Tôi nói: Con biết.

Bà hỏi: Con biết kiểu gì.

Tôi nói: Con nhìn thấy.

Bà bèn thôi hỏi.

Anh ghi chép đi ra từ trong.

Tóc anh ướt, dính vào trán. Anh ôm hai chồng quyển.

Anh đặt quyển xuống đất, quay người đi vào tiếp.

Chuyến thứ hai anh ôm ra một chồng. Mép xém, một vòng đen.

Lúc đặt xuống tay anh run.

Có người hô: Đừng vào nữa.

Anh vẫn vào.

Chuyến thứ ba anh ra muộn.

Ra đến nơi tay anh trống rỗng.

Anh quỳ xuống đất ho. Ho làm vai giật lên từng cái.

Có người dìu anh dậy.

Anh vịn tường đứng một lúc.

Thợ Qiao cũng có ở đó. Ông đứng ở cửa, hai tay đút trong tay áo.

Ông nói: Loa không sao.

Tôi hỏi: Gì cơ.

Ông nói: Vài cái trong nhà, cháy rồi.

Ông nói: Cái ngoài sân không sao.

Ông bèn thôi nói. Ông nhìn vào trong.

Người đàn bà áo xám đứng ở cửa. Bà hô: Cả nhà về ngủ đi.

Không ai nhúc nhích.

Bà hô lại một lượt. Vẫn không ai nhúc nhích.

Về sau người đàn bà áo xám ngồi xổm xuống đất đếm quyển.

Đếm được một chồng, bà đặt lên trên một viên gạch.

Đếm đến chồng thứ năm thì bà ngừng. Bà đặt viên gạch xuống, lại nhặt lên.

Bà không đếm tiếp nữa.

Lửa tắt thì trời sắp sáng.

Trên tường một vệt đen. Từ cửa sổ chạy lên, một vệt.

Kiếng cửa sổ mất rồi. Khung còn, gỗ cháy đen, chạm vào là rơi vụn.

Anh ghi chép ngồi trên bậc cửa. Một chân anh không đi giày.

Giày nằm trên đất bên cạnh, thân giày cháy thủng một lỗ.

Anh không đi. Anh cứ ngồi thế.

Tôi nói: Giày của anh.

Anh nói: Không sao.

Trên đất một lớp nước, trên nước trôi tro giấy.

Tôi thấy một mảnh giấy. Góc giấy có một chữ, cháy mất nửa.

Tôi ngồi xổm xuống xem. Không nhìn ra.

Trên đất có một cái kẹp sắt. Là cái anh ghi chép dùng kẹp quyển, cháy đen.

Tôi lót tay áo mà nhặt lên. Cái kẹp còn nóng.

Tôi nhét nó vào túi.

Tôi định lấy mảnh giấy đó. Có người giật tay tôi một cái.

Là mẹ. Bà nói: Nóng.

Tôi bèn không lấy.

Mẹ nắm tôi kéo đi về.

Tay bà khỏe. Cả đường bà không nói gì.

Về tới nhà bà bắt tôi ngồi lên mép kang. Bà rót cho tôi một bát nước.

Bà nói: Uống đi.

Tôi hỏi: Nhà máy làm sao đấy.

Bà nói: Cháy.

Tôi hỏi: Cháy cái gì.

Bà nói: Giấy.

Tôi hỏi: Quyển cháy không.

Bà nói: Không biết.

Bà nói: Về sau đừng có chạy đi đấy nữa.

Tôi nói: Con phải báo số.

Bà nói: Báo số cũng đừng chạy đi đấy.

Tôi bèn không nói gì.

Bà lột áo bông của tôi ra, hất hất một cái. Hất ra một mùi.

Bà nói: Mai mẹ giặt cho.

Tay áo bông có một mảng đen. Bà dùng tay chà, chà không sạch.

Bà nói: Thôi.

Bà vắt áo bông lên dây, không giặt.

Tôi móc cái kẹp sắt ra, đặt lên bậu cửa sổ.

Mẹ nói: Cái gì đấy.

Tôi nói: Cái kẹp.

Bà hỏi: Ở đâu ra.

Tôi nói: Nhặt được.

Bà nói: Nhặt được cũng phải rửa.

Bà bèn thôi quản. Bà đi nhồi bột.

Sáng hôm sau tôi đi trụ sở.

Cái nhà sân sau cửa đóng.

Trên móc khóa luồn một khúc dây sắt. Đầu dây sắt xoắn hai vòng.

Trong khe cửa bốc ra hơi trắng. Hơi ẩm.

Chân tường chất giấy ướt, từng xấp từng xấp, sụp xuống.

Tôi ngồi xổm xuống xem. Chữ trên giấy ướt loang ra, không nhìn ra.

Có một xấp trên đầu đè một viên gạch.

Anh ghi chép có ở đó. Anh ngồi bên mép bàn.

Mắt anh đỏ. Mu bàn tay anh bó vải, vải trắng, mép dính bụi.

Tôi hỏi: Cháy bao nhiêu.

Anh nói: Hai cái tủ.

Tôi hỏi: Cái đã báo lên cũng ở trong đó à.

Anh nói: Ở trong đó.

Tôi hỏi: Của anh thì sao.

Anh nói: Ôm ra được ba chồng.

Tôi hỏi: Những cái tôi nói thì sao.

Anh ngừng một chút.

Anh nói: Còn.

Tôi không nói gì.

Anh đứng dậy, đi ra sau bàn, bê ra một chồng.

Xấp quyển đó mép cháy một vòng. Đen, ấn vào là rơi bụi.

Anh đặt lên bàn, lật. Khi lật anh dùng ngón tay tách, tách không ra thì thổi một hơi.

Anh lật đến một trang, xoay quyển lại, đẩy về phía tôi.

Anh nói: Của con đấy.

Tôi nhìn trang đó.

Giấy màu trắng. Những trang khác đều vàng.

Tôi nói: Trang này không phải anh viết.

Anh nói: Phải.

Tôi nói: Chữ anh nhỏ. Chữ này to.

Anh gập quyển lại.

Anh nói: Đừng xem nữa.

Tôi hỏi: Đây trang số mấy.

Anh nói: Bốn mươi bốn.

Tôi nói: Con nhớ rồi.

Anh hỏi: Nhớ để làm gì.

Tôi nói: Không để làm gì.

Tôi móc cái kẹp sắt từ trong túi ra, đặt lên bàn.

Cái kẹp đen rồi. Chỗ tôi bóp rụng một mảnh đen, lộ ra trắng.

Anh nhìn một cái.

Anh hỏi: Ở đâu nhặt được.

Tôi nói: Trên đất.

Anh nói: Con giữ lấy đi.

Tôi hỏi: Anh không muốn nữa à.

Anh nói: Tôi còn một cái nữa.

Tôi bèn nhét cái kẹp trở lại vào túi.

Tôi hỏi: Cháy kiểu gì.

Anh nói: Đường điện.

Tôi hỏi: Sợi nào.

Anh nói: Sợi cũ.

Tôi hỏi: Cái nhà đó về sau còn chứa quyển không.

Anh nói: Chứa.

Tôi hỏi: Còn chứa vừa không.

Anh nói: Nhét.

Anh ôm xấp quyển đi mất. Khi ôm anh dùng tay đỡ ở dưới.

Tôi về sân. Trên đường có tuyết, tan rồi đông lại, dẫm lên trơn.

Tôi trượt một cái, tay chống xuống đất. Lòng bàn tay dính đen.

Tôi xếp sỏi lên bậu cửa sổ. Xếp được bốn viên.

Viên thứ tư xếp không nổi. Vừa đặt là nó lăn.

Tôi bèn xếp ba viên.

Quyển sổ xanh vẫn nằm trong cặp. Đến số ba mươi sáu. Số ba mươi bảy trống.

Sang xuân tôi đi học rồi.

Erya không đi học.

Cô giáo nói nhà nó chuyển đi rồi.

Tôi hỏi: Chuyển đi đâu.

Cô giáo nói: Không biết.

Tôi về kể với mẹ. Mẹ nói: Chuyển đi cũng tốt.

Tôi hỏi: Tốt cái gì.

Mẹ nói: Bớt chạy mấy bước đường.

Việc đi trụ sở đổi thành một tuần hai lượt.

Anh ghi chép vẫn thứ sáu dập thành một chồng. Cái dùi đục ba lỗ, trước khi đục anh ấn chặt giấy, ấn ra một vệt.

Anh không bao giờ hỏi tôi "còn gì nữa không" nữa.

Tôi cũng không nói.

Về sau tôi không hỏi lại trang đó nữa.

Đó là chuyện về sau.

Tôi đi đến đấy là vì một tờ phiếu. Trên phiếu ghi hai chữ "bàn giao", bên dưới là một hàng địa chỉ.

Địa chỉ nằm trong một cái sân. Trong sân hai dãy nhà trệt.

Tôi tìm ba căn mới tìm ra.

Cửa mở. Trong nhà vắng người. Tôi hô một tiếng.

Có một người bước ra. Anh ta hỏi: Cô tìm ai.

Tôi nói: Tôi tìm liên lưu của khóa thứ bảy.

Anh ta nói: Ở sâu trong cùng.

Trong kho bàn giao hồ sơ cũ tôi tìm thấy một xấp.

Kệ nằm sâu trong cùng, mặt trên phủ bụi. Tôi kéo một cái ghế.

Túi ghi năm. Năm thì tôi nhận ra.

Tôi tháo dây ra. Dây là dây giấy, giật một cái là đứt.

Trong đó là quyển. Mép xém, một vòng đen.

Trang đầu là mục lục. Dòng đầu của mục lục ghi năm, sau đó ba chữ.

Ba chữ đó là: Khóa thứ bảy.

Tôi xem hai giây, rồi xem tiếp xuống dưới.

Tôi đếm số trang. Một đến một trăm hai mươi sáu.

Trên mục lục cũng một trăm hai mươi sáu.

Tôi lật đến trang bốn mươi bốn.

Giấy trang đó nặng hơn các trang khác.

Về sau tôi mới biết, độ dày mỏng của giấy có một cách gọi: định lượng.

Tôi nhấc trang đó lên soi vào đèn.

Dưới đèn thấy được vân bên trong. Các trang khác không có vân này.

Tôi dùng tay xoa một cái. Trơn hơn các trang khác.

Trên trang đó có chữ. Chữ của người lớn viết.

Tôi không nhận ra đó là chữ của ai.

Người quản kho cho tôi một đôi găng tay. Trắng, mép đã xù lông.

Anh ta nói: Chỉ được chép, không được mang ra ngoài.

Tôi nói: Tôi chép.

Anh ta nói: Chép cũng phải khai phiếu.

Anh ta cho tôi một tờ phiếu. Trên phiếu có một cột gọi là mục đích.

Tôi viết hai chữ: đối chiếu.

Tôi chép một trang. Chép trang bốn mươi bốn.

Chép xong tôi đếm lại số chữ. Hai mươi bảy chữ.

Tôi ghi con số đó lên góc giấy.

Tôi gấp tờ giấy hai nếp.

Tôi trả găng tay.

Anh ta hỏi: Cô còn đến nữa không.

Tôi nói: Đến.

Anh ta nói: Đến thì báo trước.

Tôi nói: Ừ.

Tôi buộc quyển lại như cũ. Dây đứt, tôi thắt một cái nút chết.

Tôi nhét nó trở lại lên kệ. Trên kệ có một chỗ trống, là hình dạng ban đầu của nó.

Lúc nhét tôi nhét lệch đi một chút.

Tôi chỉnh cho ngay lại.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia thảo luận

Đăng nhập