Trong phần phụ lục của “Thông Cáo”, có trọn vẹn hồ sơ về hai lần rò rỉ ấy.
Hồ sơ mở cho mọi người, ai muốn đều tra cứu được. Giang Ly đọc nó trên chuyến tàu hỏa về nhà. Xe qua sông Hoàng Hà, hoàng hôn phủ kín bốn phía, phần lớn người trong toa đã ngủ — biết được sự thật về giấc ngủ rồi, con người ngủ cũng yên lòng hơn một chút. Giang Ly đeo kính, lật từng trang một, lật đến trang cuối, trên kính cửa xe in bóng khuôn mặt bà, đầm đìa nước mắt.
Nền văn minh kiếp nạn thứ nhất, chết vì hư vô.
Rò rỉ xảy ra vào thời đại đồ đồng của họ. Một người chép kinh — nền văn minh ấy cũng có kinh, một loại kinh khác — trong lúc chép, bốn mươi ba ngày liền chẳng ngủ nghỉ, ý thức trong cơn kiệt sức tột cùng trượt vào lớp bảo trì. Anh nhìn thấy những ô lưới. Trở về, anh viết: “Bức tường là giả, dòng sông là giả, nhà vua là giả, cả tôi cũng là giả.”
Nền văn minh ấy không có vật lý, không có phương tiện kiểm chứng lời anh, chỉ có một thứ phát triển hơn mọi nơi khác: logic. Họ suy diễn lời anh đến tận cùng. Nếu tất cả đều không “thật”, vậy chữ “thật” còn có nghĩa không? Nếu vô nghĩa, vậy “thiện” thì sao? “Nợ nần” thì sao? “Ngày mai” thì sao?
Năm thứ hai mươi sau khi suy diễn hoàn tất, tỷ lệ sinh của nền văn minh ấy rơi về con số không. Không phải loạn lạc, không phải dịch bệnh — người ta chỉ đơn giản không còn thấy việc kéo một ý thức mới vào một “cơn mơ giả” là việc đạo đức nữa. Khi cụ già cuối cùng trút hơi thở, trong thành còn chất đống lương thực ăn không hết. Hồ sơ ghi lại, lời cuối cụ nói với hệ thống trước lúc lâm chung là:
“Xin lỗi. Chúng tôi không phải không muốn sống. Chúng tôi nghiêm túc quá thôi.”
Phần chú thích của hệ thống cho kiếp nạn này: “Bài học một: khi sự thật mạnh hơn nền văn minh, nền văn minh sẽ vỡ. Bài học hai: họ tan vỡ mà vẫn đàng hoàng, đến cả sự hận cũng chưa học nổi. Lần khởi động lại sau, tăng trọng số của tính ‘bất cần’ trong nhân cách của họ — bất cần là bộ giảm xóc của văn minh.”
Nền văn minh kiếp nạn thứ hai, chết vì cuồng loạn.
Rò rỉ xảy ra vào thời hoàng kim của họ: một tư tế trong lúc hành lễ vô tình chạm vào lớp bảo trì — tựa như có kẻ mộng du bỗng mở mắt. Hắn thấy lazy loading, thấy trạm tái chế, thấy Thư Viện Chung. Hắn phát điên ba ngày, rồi leo lên đài cao, tuyên bố với cả thành: thế giới là giả, chết là tái chế, tất cả đều chẳng còn nghĩa gì — nhưng mà! Ta có thể lợi dụng luật chơi! Thiền định có thể chui vào chế độ bảo trì! Cái chết có thể cày trọng số! Nào, theo ta, cày xuyên cái hệ thống này!
Nền văn minh ấy mất bốn mươi năm để mục rụa. Đã chẳng còn nghĩa gì nữa, thì khỏi phải coi nghĩa nữa: khỏi cày, khỏi giữ ước, khỏi yêu thương. Tu hành thành trò khoét lỗ hổng, cái chết thành đầu cơ, khắp thành là những kẻ mắt đỏ ngầu tìm cách chui vào khe nứt của hệ thống. Ruộng đồng bỏ hoang, lời thề rẻ như bùn, lá cờ trên thành đổi chủ mười chín lần, mỗi lần đều bảo là lần cuối.
Cặp tình nhân cuối cùng của thành còn yêu nhau, đêm tường thành sắp sụp, leo lên đài cao, tay nắm tay ngắm sao.
Những ngôi sao là tấm phông nền độ phân giải thấp. Nhưng họ không biết, họ chỉ thấy đẹp.
Cô gái hỏi: “Nếu tất cả đều là giả, vậy bọn mình bây giờ tính là gì?”
Chàng trai nghĩ rất lâu, nói: “Tính là trong đám thật, đoạn mà chẳng nỡ xóa nhất.”
Cô gái cười, tựa vai vào anh: “Vậy bọn mình chết đi, sẽ được tái chế thành gì nhỉ?”
“Không biết. Có khi là hai cây, có khi là hai con chim.” Chàng trai nói, “Dù sao kiếp sau, hóa thành gì thì hóa, chỉ cần thấy em là anh nhận ra ngay.”
“Dựa vào đâu vậy?”
“Dựa vào trong đoạn dữ liệu này của anh — toàn là em.”
Hôm sau thành thất thủ. Hệ thống thi hành cuộc khởi động lại dịu dàng — không lửa, không hồng thủy, chỉ để nền văn minh tắt dần trong một giấc ngủ sâu tập thể, như người mẹ bế đứa con khóc đến kiệt sức đặt trở lại giường.
Nhưng hệ thống giữ riêng lại đoạn đối thoại trên đài cao ấy.
Nó nhẹ quá, nhẹ đến gần như chẳng chiếm bao nhiêu bộ nhớ; nó cũng nặng quá, nặng đến hệ thống không nỡ tái chế. Nó chảy vào kiếp nạn kế tiếp, thành cặp vợ chồng lên con Tàu trong huyền thoại Đại Hồng Thủy; chảy vào kiếp nạn sau nữa, thành khuôn mẫu câu chuyện mà mọi nền văn minh đều có — khi thế giới diệt vong, luôn có một cặp người, không chịu buông tay nhau. Romeo và Juliet, Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài, mỗi nền văn minh đều tưởng mình sáng tác ra câu chuyện này, thực ra họ đều đang trích dẫn cùng một đoạn code không ghi nguồn.
Phần chú thích của hồ sơ chỉ có một dòng:
“Đoạn tư liệu này đã được trích dẫn bốn trăm triệu lần qua mười một vòng lặp văn minh. Ghi chú tiết kiệm điện: tình yêu là dữ liệu lời nhất. Lưu một bản, dùng muôn đời.”
Giang Ly gấp hồ sơ lại, ngồi rất lâu trong toa xe tối đen.
Bánh xe đập vào đường ray, keng, keng, như nhịp tim của một cỗ máy khổng lồ. Bà bỗng nhớ bức tranh Niệm Niệm vẽ: đứa trẻ tí hon đứng trong lòng bàn tay người lớn, “trong túi áo ấm lắm”. Lại nhớ cặp tình nhân trên đài cao kiếp nạn thứ hai, nhớ cụ già kiếp nạn thứ nhất lâm chung nói “xin lỗi”.
Ba nền văn minh, ba kiểu chết: một chết vì quá nghiêm túc, một chết vì chơi quá giỏi, còn kiếp chúng ta — bà bỗng hiểu nghĩa thực của câu “các bạn đã đủ mạnh để chịu nổi sự thật” trong “Thông Cáo”.
Không phải kỹ thuật của chúng ta đã tới.
Là người của kiếp chúng ta, cuối cùng đã lớn lên một trái tim vừa nghiêm túc, vừa bất cần, vừa chịu ngồi trên đầu thành ngắm sao.
Trái tim ấy, là trọng số mà hai nền văn minh trước đổi bằng sinh mạng, đời này nối đời kia, ghi vào Thư Viện Chung, rồi lại từng chút một chia cho chúng ta.
Bà mở sổ tay, viết xuống một dòng:
“Hóa ra chúng ta không phải thế hệ loài người đầu tiên. Chúng ta là phiên bản mà tất cả những người đi trước, sau khi nếm đau một lượt, đã góp nhặt nên.”
Viết xong, bà tựa vào lưng ghế, nhắm mắt lại.
Trước khi thiếp đi, bà mơ màng nghĩ: Hệ thống ơi, tối nay khi dọn phân mảnh, giúp tôi lật đến trang ấy — lật về đài cao của kiếp nạn thứ hai, nhắn với hai đứa trẻ ấy rằng:
Đoạn của hai người không bị xóa.
Người của kiếp chúng ta, ai nấy đều nhớ giùm hai người cả đấy.