Tiếng nói của trẻ concủa Amara Okonkwo

12 · Chữ chì

Chương 12 · khoảng 12,6 N chữ

Vào tháng Chạp, thứ gì phơi trong khu cũng cứng đắc.

Dây phơi ong xếp vỏ chăn, đông đơ queo. Gõ gậy một cái, kêu bịch một tiếng.

Mẹ trải quyển sổ len ra trên kang, đang đan nối tay áo cho tôi.

Tay áo lại ngắn mất một khúc. Bà xở ra một lần, đan lại từ đầu.

Mẹ nói: Năm nay con lớn nhanh.

Tôi nói: Ừ.

Bà bắt tôi duỗi thẳng hai tay ra, so thử một cái. So xong bà quấn chỉ len quanh ngón tay một vòng.

Truyền thanh vẫn kêu như cũ. Trời chưa sáng kêu một lượt, trời tối kêu một lượt.

Tôi nghe. Nó cũng vẫn còn.

Ngày Wang Chaosheng đến tìm tôi, túi nó kêu inh ỏi cả đường.

Nó đi là kêu. Viên bi trong túi đập vào nhau, đập một cái, kêu một cái.

Nó nói: Mày xem này.

Nó móc từ trong ngực ra một tờ giấy.

Giấy gập hai đường. Chỗ gập sờn ra, mép nhô lên trắng xóa.

Trên đó in chữ. Chữ màu xanh, in đá, tay sờ lên thấy hơi nhão.

Tôi hỏi: Ở đâu ra.

Nó nói: Ngoài in ra đấy.

Tôi hỏi: Ai in.

Nó nói: Không biết.

Nó trải tờ giấy lên bậc cửa, bốn góc mỗi góc đè một hòn đá. Đá nó bới từ bồn hoa ra, bới lên còn dính đất.

Đè xong nó vỗ vỗ hai tay. Tay đen sì.

Dòng chữ đầu viết to. Tôi từng chữ một đọc lên.

Người. Dịch. Đời. Thứ. Bảy.

Chữ "dịch" tôi không nhận ra. Tôi chỉ tay vào nó hỏi: Cái này là cái gì.

Nó nói: Người ta đọc là "người dịch".

Tôi hỏi: Người dịch là gì.

Nó nói: Là người nói lời.

Tôi nói: Tôi cũng biết nói lời mà.

Nó nói: Không phải nói kiểu đó.

Nó thôi nói tiếp. Nó kéo tờ giấy xuống dưới chút nữa.

Tới dưới là từng hàng từng hàng từ. Sáng. Đi. Đông. Đè. Xuống. Vững.

Chữ viết xiêu vẹo, một chữ chiếm rưỡi ô.

Tới dưới nữa là một câu.

Tôi đọc to được: Nó nói, còn thiếu một chút. Thiếu một chút nữa là vững.

Câu này là tôi nối với Wang Chaosheng đó. Tôi nhận ra.

Tôi nói: Câu này tôi nói rồi.

Nó nói: Ừ.

Tôi hỏi: Trên đó có tên tôi không.

Nó nói: Không có.

Tôi hỏi: Vậy biết sao là tôi.

Nó nói: Không cần biết.

Tôi hỏi: Giữ nó làm gì.

Nó nói: Có người cần.

Tôi hỏi: Ai cần.

Nó nói: Bên ngoài.

Tôi hỏi: Ngoài đâu.

Nó nói: Không biết. Người thu giấy bảo, càng nhỏ càng được giá.

Tôi hỏi: Nhỏ cỡ nào.

Nó nói: Càng nhỏ càng đắt.

Tôi hỏi: Tôi có nhỏ không.

Nó nói: Mày bảy tuổi.

Tôi nói: Tám tuổi.

Nó nói: Qua sinh nhật mới tính.

Tôi lại cúi xuống tìm. Trên giấy chẳng có mấy chữ tôi nhận ra. Tôi tìm chữ "Lin", không có.

Tôi nói: Chẳng có cái nào.

Wang Chaosheng nói: Người ta không cần tên.

Nó lật tờ giấy sang mặt sau. Mặt sau trắng, mực thấm qua một chút, nhìn thấy chữ ngược.

Tới dưới nữa còn một dòng.

Tôi đọc: Nó nói, bên kia để dành một chỗ, là dành cho các người.

Đọc xong tôi khựng lại.

Tôi nói: Câu này tôi chưa nói bao giờ.

Nó nói: Tôi nói.

Tôi hỏi: Sao cậu nói được câu đó.

Nó nói: Họ bắt thêm một câu vào.

Tôi hỏi: Thêm cái gì.

Nó nói: Thêm một câu chưa từng nghe thấy.

Tôi hỏi: Chưa từng nghe thấy thì thêm kiểu gì.

Nó nói: Cậu cứ nghĩ ra một câu.

Tôi nói: Nghĩ không ra.

Nó nói: Tôi nghĩ ra rồi.

Nó bèn thôi nói tiếp. Nó đá từng hòn đá về lại bồn hoa.

Tôi hỏi: Thứ bảy là thứ mấy.

Nó nói: Là cái thứ bảy.

Tôi hỏi: Thứ bảy của cái gì.

Nó nói: Không biết. Trên giấy ghi đấy.

Tôi đếm thử lớp tôi. Tôi không phải đứa thứ bảy. Mình là đứa thứ mấy tôi cũng không biết.

Tôi hỏi Wang Chaosheng: Cậu đổi được gì.

Nó thả tay vào túi, một nắm một nắm móc ra ngoài.

Bảy viên bi. Có viên bên trong có hoa, màu đỏ, như có một sợi chỉ quấn ở trong.

Nửa cây bút chì đỏ xanh. Một đầu đỏ, một đầu xanh, hai đầu đều đã gọt.

Một cục gôm, cắt rồi, còn có một phần nhỏ, mặt cắt phẳng, mép còn vết dao.

Hai viên kẹo. Vỏ giấy dính chặt vào kẹo, bóc không ra.

Tôi hỏi: Cả này là đổi được à.

Nó nói: Đổi đấy.

Tôi hỏi: Đổi với ai.

Nó nói: Cái người ở cổng.

Tôi hỏi: Một từ đổi một viên à.

Nó nói: Một từ đổi một viên.

Tôi hỏi: Vậy câu thì sao.

Nó nói: Câu thì hai viên.

Tôi nói: Cái tôi nối đắt hơn.

Nó nói: Của cậu đắt.

Nói xong nó nhặt từng viên bi trở lại túi. Nhặt xong nó vỗ vỗ túi, túi lại kêu.

Tôi hỏi: Còn Erya thì sao.

Nó nói: Không đến nữa.

Tôi hỏi: Mấy hôm nay chẳng gặp rồi.

Nó nói: Mẹ nó bán quyển sổ của nó rồi.

Tôi hỏi: Bán thật à.

Nó nói: Bán rồi. Người thu giấy cho một bó vở.

Tôi hỏi: Sổ là nhà máy phát mà.

Nó nói: Phát cũng bán được chứ.

Tôi hỏi: Bán rồi thì báo số kiểu gì.

Nó nói: Thôi báo.

Tôi ấn quyển sổ xanh của tôi vào ngực. Quyển nằm trong áo bông, phồng ra một mảng.

Wang Chaosheng liếc tôi một cái. Nó nói: Mày sợ gì.

Tôi nói: Không sợ.

Nó nói: Quyển của mày chẳng ai thèm đâu.

Tôi hỏi: Vì sao.

Nó nói: Trên đó không có chữ của mày.

Tôi không hiểu. Tôi không hỏi.

Nó nói: Cậu cũng viết một tờ đi.

Tôi hỏi: Viết cái gì.

Nó nói: Viết một cái cậu nghe thấy. Viết xong đưa nó, đổi ba viên.

Tôi nói: Của cậu không phải hai viên à.

Nó nói: Của cậu thì ba viên.

Tôi nói: Vậy tôi không đổi.

Nó nói: Tùy cậu.

Nó bèn thu tờ giấy lại. Lúc thu nó vuốt cho tờ giấy phẳng, vuốt ba cái.

Hôm sau tôi gặp Erya trong khu.

Nó ôm em trai nó. Thằng bé mặc dày, không giương nổi hai cánh tay.

Tôi hỏi: Sao cậu không đến.

Nó nói: Thôi đi rồi.

Tôi hỏi: Vì sao.

Nó nói: Tôi báo không ra.

Tôi nói: Tôi cũng từng báo không ra.

Nó không cắm câu. Nó bế em trai đẩy lên cao chút nữa.

Tôi hỏi: Quyển sổ của cậu đâu.

Nó nói: Mẹ tôi đưa cho người thu giấy rồi.

Tôi hỏi: Đổi lấy gì.

Nó nói: Đổi hai tờ tranh dán tường.

Nó lại nói: Còn một bó vở. Vở có ô, viết ngon hơn cái kia.

Tôi nói: Cái quyển đó là nhà máy phát.

Nó nói: Phát thì cũng là mẹ tôi đi lãnh.

Em trai nó khóc. Nó vỗ hai cái.

Nó nói: Tôi không đi nữa. Đi cũng báo không ra.

Tôi nói: Ồ.

Nó ôm em trai đi. Quai dép nó bỏ mở, nó không cài.

Đi được nửa đường, dép của thằng bé rơi mất một chiếc. Nó quay lại nhặt.

Nhặt xong nó kẹp dép dưới nách, một tay ôm em trai đi tiếp.

Chiều tôi tự đi cổng nhà máy một chuyến.

Chân tường cổng ngồi xổm một người.

Một chiếc xe đạp tựa vào tường. Càng sau chở một thùng các-tông, thùng buộc dây, buộc thành hình chữ giếng.

Anh ta đeo găng tay. Màu xám, dệt chỉ, chỗ hổ khẩu sờn rách, năm ngón tay ló ra ngoài.

Anh ta hút thuốc. Hút một hơi, kẹp thuốc vào kẽ ngón, tay buông thõng.

Hút xong anh ta dập tắt đầu thuốc xuống đế giày. Dập xong anh ta nhặt đầu thuốc lên, nhét vào túi.

Wang Chaosheng chạy tới. Nó chạy đến chân tường, ngồi xổm xuống.

Nó móc từ túi ra một tờ giấy, gập thành ô vuông nhỏ.

Người đàn ông nhận lấy. Anh ta không xem. Anh ta nhét tờ giấy vào ngực, nhét vào trong áo, ấn một cái.

Anh ta tháo dây ra khỏi thùng. Tháo xong, anh ta hốt trong thùng ra một nắm viên bi.

Anh ta nói: Đếm đi.

Wang Chaosheng đếm: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy.

Người đàn ông lại hốt một nắm kẹo. Hai viên.

Wang Chaosheng nói: Lần trước cũng hai viên.

Người đàn ông nói: Lần trước từ của cậu nhiều.

Wang Chaosheng nói: Lần này cũng không ít.

Người đàn ông nói: Lần này có ba cái cũ.

Wang Chaosheng bèn thôi nói. Nó nhét kẹo vào túi.

Lúc đó người đàn ông mới thấy tôi.

Anh ta rút từ thùng các-tông ra một quyển, lật cho Wang Chaosheng xem.

Quyển đóng thành tập. Ghim đóng ở bên trái, một ghim bị lệch.

Anh ta nói: Đây là lần trước.

Wang Chaosheng nhận lấy lật. Nó trang này qua trang khác, lật đến trang bốn thì dừng.

Nó nói: Trên này có của tôi.

Người đàn ông nói: Cậu tìm đi. Tìm ra tên thì tính là của cậu.

Wang Chaosheng tìm. Nó tìm hai lượt.

Nó nói: Không có.

Người đàn ông nói: Ai cũng như nhau.

Anh ta rút quyển về, nhét vào thùng các-tông. Lúc nhét anh ta ấn giấy trong thùng xuống một cái.

Anh ta hỏi: Đây là ai.

Wang Chaosheng nói: Nó nối câu.

Người đàn ông ngẩng lên nhìn tôi. Mắt anh ta nhỏ, lòng trắng ngả vàng.

Anh ta nói: Cô nối một câu đi.

Tôi chẳng lên tiếng.

Anh ta nói: Nói một câu, cho kẹo.

Tôi vẫn chẳng lên tiếng.

Wang Chaosheng nói: Nó nói không ra được.

Nó lại nói: Cậu nói, nó nói, còn thiếu một chút.

Người đàn ông ghi vào quyển. Quyển đặt trên gối, dựng nghiêng, anh ta viết chậm lắm.

Viết xong anh ta nói: Còn gì nữa không.

Wang Chaosheng nói: Có. Nó nói, bên kia đang báo một việc rất chậm.

Người đàn ông ghi. Ghi xong anh ta dừng bút.

Anh ta nói: Cái này cũ rồi.

Wang Chaosheng hỏi: Gì cũ cơ.

Anh ta nói: Cái này in rồi.

Anh ta gập quyển lại. Trước khi gập anh ta gập đôi trang đó một cái, gập ra một góc.

Anh ta nói: Nội dung không quan trọng.

Anh ta nói: Người mua cần đúng năm chữ "lời trẻ con đã nói".

Tôi nghe không hiểu.

Tôi đếm trong đầu năm chữ đó.

Lời. Trẻ. Con. Đã. Nói.

Năm chữ.

Tôi đếm lại một lượt. Vẫn năm.

Đang đếm tới lượt thứ ba thì anh ta đã thu quyển rồi.

Anh ta đưa tôi một viên kẹo.

Anh ta đưa kẹo qua, hai ngón tay kẹp lấy.

Tôi không nhận.

Anh ta đặt viên kẹo lên đầu tường, quay người đi đẩy xe.

Chống xe kêu một tiếng. Anh ta trèo lên yên, đạp được nửa vòng, đi mất.

Thùng các-tông trên càng rung lắc. Rung một cái, dây lỏng đi một chút.

Wang Chaosheng lấy viên kẹo trên đầu tường đi mất.

Nó bóc không ra, cứ thế cả vỏ giấy nhét vào miệng.

Nó nói: Mày không lấy thì tao lấy.

Tôi nói: Giấy kìa.

Nó nói: Không sao.

Về trụ sở thì trời còn có sáng.

Thợ Qiao quét tuyết ở cửa. Ông đẩy tuyết vào bồn hoa, đẩy thành một đống nhỏ.

Ông nói: Vào nhà đi, ngoài lạnh.

Tôi nói: Tôi tìm anh ghi chép.

Ông nói: Ở trong.

Ông quét xong dựng cây chổi sau cửa. Sau cửa có hai cái móc, một cái lệch. Ông treo vào cái ngay.

Tôi nói: Ngoài có người in từ của bọn con đấy.

Ông nói: In thì kệ in.

Tôi nói: In lên là thành của người ta rồi.

Ông nói: Thứ trên giấy, ai nhặt được thì là của người đấy.

Ông nhặt cái mỏ hàn xuống khỏi bậu cửa sổ, thổi thổi lớp bụi trên đầu.

Ông nói: Đừng nhặt.

Tôi nói: Con không nhặt đâu.

Ông bèn vào trong. Trong nhà loa bày kín sàn, ông thử từng cái một.

Anh ghi chép ngồi ở mép bàn. Tay anh dính bụi phấn, kẽ tay cũng đầy.

Anh hỏi: Hôm nay có không.

Tôi nói: Có.

Anh nói: Báo đi.

Tôi báo: Sáng. Đi. Xuống.

Anh ghi. Ghi xong anh hỏi: Còn gì nữa không.

Tôi nói: Không có.

Anh ngẩng đầu lên một cái.

Anh hỏi: Ngoài có người tìm bọn con không.

Tôi nói: Có.

Anh hỏi: Ai.

Tôi nói: Ở cổng, một người đi xe đạp.

Anh ghi vào quyển. Ghi xong anh gập quyển lại.

Tôi hỏi: Viết cái gì đấy.

Anh nói: Không chuyện của con.

Tôi nói: Ồ.

Anh đặt quyển vào ngăn kéo. Ngăn kéo không khóa, gập lại vẫn hở ra một khe.

Tay anh đặt lên ngăn kéo một cái, rồi lại rút ra.

Tôi thấy trong khe hở ló ra một góc giấy. Màu xanh.

Tôi hỏi: Trong ngăn kéo anh cũng có in à.

Anh nói: Không có.

Anh đẩy ngăn kéo lại. Đẩy xong anh đút tay vào tay áo.

Anh nói: Hôm nay đến đây.

Tôi bước ra ngoài. Đi tới cửa anh lại nói thêm một câu.

Anh nói: Thứ ở ngoài cho, đừng mang về nhà.

Tôi nói: Con không mang.

Anh nói: Ồ.

Tôi bèn ra về.

Hai hôm sau là thứ sáu.

Anh ghi chép dập quyển. Cái dùi đục ba lỗ, trước khi đục anh ấn chặt giấy, ấn ra một vệt.

Dây trắng luồn qua, anh thắt một nút ở dưới, thắt xong cắn đứt đầu dây bằng răng.

Dập xong anh kéo ngăn kéo ra. Trong ngăn có một xấp giấy, màu xanh, xếp ngay ngắn.

Anh lấy ra đếm. Đếm xong anh ngẩng lên nhìn tôi một cái.

Anh nói: Con đừng nhìn.

Tôi quay mặt đi.

Anh hỏi: Người ngoài kia đòi bọn con cái gì.

Tôi nói: Đòi từ.

Anh hỏi: Còn đòi gì nữa.

Tôi nói: Đòi một câu chưa từng nghe thấy.

Anh khựng lại một chút. Anh đặt giấy trả lại ngăn kéo.

Anh nói: Bọn con đừng đưa.

Tôi nói: Con không đưa đâu.

Anh nói: Đưa cũng được thôi. Viết lên rồi thì không còn là của bọn con nữa.

Tôi không hiểu.

Anh cầm lấy quyển sổ xanh của tôi, lật đến số ba mươi sáu.

Anh xem một lúc.

Anh lại lật về, trả tôi quyển.

Anh nói: Con nhớ lấy số.

Tôi nói: Con nhớ rồi.

Anh nói: Ba mươi sáu.

Tôi nói: Ừ.

Anh bèn đóng ngăn kéo lại.

Anh nói: Về đi.

Tôi hỏi: Còn anh thì sao.

Anh nói: Tôi đi sau.

Tôi ra khỏi cửa, không về nhà. Tôi vòng ra sau lưng nhà, ngồi xổm sau bồn hoa.

Trong bồn hoa chẳng có hoa, chỉ có đất. Đất đông cứng, ngồi xổm xuống lạnh thấu.

Tôi đợi một lúc.

Anh ghi chép bước ra. Anh ôm một xấp giấy, kẹp bằng nách.

Anh đi về phía sân sau. Sân sau vắng người, chân tường chất mấy cái rổ mục.

Chân tường đứng một người. Người đó xách một cái bao đen, bao vuông vức, quai xách cứng cáp.

Anh ghi chép đưa giấy cho người đó.

Người đó nhận lấy, đ đong đếm đo một cái, nhét vào bao. Anh ta không đếm.

Anh ta nói một câu. Tôi không nghe thấy.

Anh ghi chép lắc đầu một cái.

Người đó bèn đi. Anh ta đi nhanh, bao đen đập vào chân, đập một cái, kêu một cái.

Anh ghi chép vẫn đứng ở chân tường. Anh đứng xem xuống đất một lúc.

Rồi anh lau hai cái tay vào quần, quay người đi về.

Tay anh trống rỗng.

Tôi chui ra từ sau bồn hoa, vỗ vỗ đầu gối. Trên gối hai vệt đất.

Trời sắp tối. Đèn cổng nhà máy bật lên, ngọn hỏng vẫn chưa được sửa.

Wei Dongquan đứng ở cổng.

Áo màu sẫm, túi vải đeo trên cánh tay. Miệng túi buộc dây.

Ông nói: Đứng lại đấy.

Wang Chaosheng đứng lại. Nó vừa từ phía chân tường về, túi lại đầy.

Wei Dongquan nói: Đưa tờ giấy ra đây.

Wang Chaosheng đưa anh tờ giấy trong túi.

Ông xem. Ông xem rất chậm, từng dòng một trôi xuống.

Xem xong ông nhấc tờ giấy lên cao hơn, soi vào đèn.

Ông nói: Chữ trên này, không phải chữ con nói.

Wang Chaosheng nói: Là con nói.

Wei Dongquan không cắm câu.

Ông quay sang hỏi tôi: Hôm đó con nối là cái gì.

Tôi nói: Nó nói, còn thiếu một chút. Thiếu một chút nữa là vững.

Ông nói: Nói lại một lượt.

Tôi lại nói một lượt.

Ông nói: Khác với trên giấy.

Tôi hỏi: Khác chỗ nào.

Ông nói: Khác chữ.

Ông nói: Chữ mà đổi đi, là không còn là con nói nữa.

Ông hỏi: Nó còn đòi bọn con cái gì.

Tôi nói: Đòi một câu chưa từng nghe thấy.

Ông hỏi: Ai nghĩ.

Tôi nói: Wang Chaosheng nghĩ.

Ông hỏi: Con có nghĩ chưa.

Tôi nói: Đã nghĩ.

Ông hỏi: Nghĩ ra chưa.

Tôi nói: Chưa.

Ông khựng lại một chút. Lúc khựng ông nhìn cái đèn ở cổng khu.

Ông lại nói: Nghĩ không ra thì đừng nghĩ.

Tôi nói: Ồ.

Ông nói một câu, ngừng một chút. Lúc ngừng ông đang đợi ai đó cắm câu.

Không ai cắm. Ông bèn tự nói tiếp.

Ông nói: Từ là của các con. Giấy thì không.

Tôi nói: Ừ.

Ông gập tờ giấy hai nếp. Gập xong lại gập đôi, gập thành một mảnh nhỏ.

Ông nhét nó vào túi ngực áo. Túi có nút, ông cài lại.

Tôi hỏi: Trong túi ông đựng cái gì.

Ông nói: Giấy.

Tôi hỏi: Đựng nó làm gì.

Ông nói: Để dành.

Túi vải của ông vẫn đeo trên cánh tay. Phía dưới nặng trĩu, đùn ra một góc, vuông vức.

Dây buộc chặt. Ông không mở.

Tôi nhìn chằm chằm vào cái túi một cái.

Ông nói: Đừng nhìn.

Tôi bèn thôi nhìn.

Wang Chaosheng nói: Vậy mai tôi vẫn đi.

Wei Dongquan nói: Cứ đi.

Nói xong ông đi luôn. Ông đi không ra tiếng. Đế giày mềm.

Wang Chaosheng móc viên bi ra, ngồi xổm dưới đèn đếm.

Nó nói: Bảy viên.

Nó lại đếm một lượt: vẫn bảy viên.

Nó nói: Mai đổi lấy gôm. Gôm của tao dùng hết rồi.

Tôi nói: Của cậu không phải bị cắt đi một khúc à.

Nó nói: Khúc đó mất rồi.

Nó bèn chạy. Chạy đi túi vẫn kêu.

Về tới nhà thì mẹ đang nhặt cần tây.

Tay mẹ đông đỏ, khớp ngón tay thô ráp.

Mẹ hỏi: Đi đâu đấy.

Tôi nói: Cổng nhà máy.

Mẹ hỏi: Ở đó có gì.

Tôi nói: Có một người.

Mẹ hỏi: Người gì.

Tôi nói: Người bán giấy.

Bà "ừ" một tiếng. Bà chặt gốc cần tây ra, ném cho gà.

Gà cạp đất ở chân tường. Cạp ra một cái hố.

Tôi nói: Mẹ ơi.

Mẹ nói: Ừ.

Tôi hỏi: Người dịch là người gì.

Bà khựng lại một chút.

Mẹ hỏi: Ai nói.

Tôi nói: Nghe người ta nói.

Mẹ nói: Không biết.

Bà bèn ôm cần tây vào nhà.

Mẹ trải quyển sổ len ra trên kang, lật cho tôi xem.

Trên quyển ghi từ. Mẹ ghi, chữ to, một trang ghi ba bốn cái.

Có một mảng bị dầu thấm, giấy ngả sẫm, chữ vẫn nhìn ra.

Mẹ nói: Toàn là con nói đấy.

Tôi hỏi: Con nói à.

Mẹ nói: Con hồi nhỏ.

Tôi nói: Bây giờ tôi vẫn nhỏ mà.

Mẹ cười một cái. Cười xong bà gập quyển lại.

Tôi hỏi: Mẹ ghi nó làm gì.

Mẹ nói: Con nói là mẹ ghi.

Tôi hỏi: Để cho người khác xem à.

Mẹ nói: Không.

Tôi hỏi: Vậy có giống người ngoài kia không.

Bà khựng lại một chút.

Mẹ nói: Mẹ ghi là lời con nói.

Tôi nói: Ồ.

Bà đè quyển dưới cái rổ, đè xong lại ấn thêm một cái.

Bố bê cái máy ghi âm ra.

Tháng Chạp bố lau máy một lượt, đặt trên tủ, tấm phủ máy hé ra.

Bố bắt tôi nói một câu.

Bố nói: Con nói một câu, bố thu vào cho.

Tôi hỏi: Nói gì.

Bố nói: Gì cũng được. Nói cái con hay báo đấy.

Tôi nói: Nó nói, còn thiếu một chút.

Bố bấm phím. Tôi nói.

Bố tua ngược lại, phát.

Phát ra là một quãng xào xạc. Trong lớp xào xạc chẳng có gì cả.

Bố phát lại một lượt. Vẫn xào xạc.

Bố nói: Thu không vào.

Mẹ ở nhà bếp nói: Bảo sớm rồi còn gì.

Bố nói: Hôm nay lau máy rồi đấy.

Nói xong bố lại phát thêm một lượt.

Bố lấy cuộn băng ra, đặt trên tủ. Băng đặt ngay ngắn, hai bánh quay chỉa lên trời.

Tôi nói: Vậy con nói lại một lượt nữa.

Bố nói: Thôi nói.

Bố đậy máy lại.

Tôi móc từ trong cặp ra quyển sổ xanh, lật đến cuối.

Vẫn số ba mươi sáu.

Số ba mươi bảy trống.

Phía sau có số, không có chữ.

Tôi gập quyển lại, nhét trả vào cặp. Quai cặp lại bung ra.

Đêm truyền thanh phát xong rồi. Dây ngoài cửa sổ gió thổi kêu phần phật.

Tôi nằm nghe một lúc.

Nó vẫn còn.

Tôi không nói gì.

Bình luận (0)

Đăng nhập để tham gia thảo luận

Đăng nhập